Chi tiết bài viết
MỘT THOÁNG GIA ĐÌNH VÀ THỜI ĐỔI MỚI (Phần cuối)
Dưới đây là bản Scant bài viết của tôi tham gia vào cuộc tranh luận “ Giá – Lương – Tiền” ngày 20 / 08 / 1985.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |

![]() |
![]() |
|
|
Trung tướng Lê Quang Đạo,
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng,
Chủ Tịch Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam
|
Từ những năm sau giải phóng miền Nam 1975, do mấy việc Cha tôi – Nhà văn Vũ Ngọc Phan bảo tôi đến chuyển sách tặng cô, chú. Vợ Chú - Cô Nguyệt Tú là con gái Danh họa về Lụa Nguyễn Phan Chánh, nên vì thế cũng có tình thân. Cô Chú lại ít tuổi hơn Cha Mẹ tôi nên gọi là Cô Nguyệt Tú, Chú Lê Quang Đạo. Có một số lần Tết Nguyên Đán, tôi có đến chúc Tết Cô Chú, thời đó không có quà gì, chỉ đến uống trà Chúc Tết thôi.
Nhà Chú ở 28D Điện Biên Phủ, góc đường ngã tư Điện Biên Phủ - Hoàng Diệu, chếch bên kia đường là vườn hoa Chi Lăng, người Hà Nội vẫn thường gọi đây là vườn hoa Canh Nông, do người Pháp xây dựng vào thời thuộc Pháp, vì ở vườn hoa này Pháp đặt một bức tượng hình người nông dân kéo cày. Thời Pháp thuộc, đường này thuộc đại lộ Puyginiê (Avenue Puginier), tuy nhiên, nhân dân ta vẫn quen gọi là đường Cột Cờ vì cột cờ Hà Nội nằm trong khu vực đó.Hòa bình lập lại Nhà nước ta giải phóng Thủ đô Hà Nội 1954 đã bỏ tượng này đặt là Vườn hoa Chi Lăng. Đến ngày 7/10/2003 vườn hoa Chi Lăng được gắn biển, đổi tên thành Công viên V.I Lê Nin. và có đặt tượng Lê Nin cho đến ngày nay.
Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 65/SL-TN, ngày 23/11/1945 "Về bảo tồn di sản văn hóa", ngay trong giai đoạn 1945 - 1954, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chú trọng thu thập, lưu giữ các tài liệu, hình ảnh, hiện vật. Trên cơ sở đó, cuối năm 1954, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) đã có chủ trương xây dựng Bảo tàng Quân đội tại 28A đường Điện Biên Phủ, Hà Nội. Sau hơn 3 năm tiến hành xây dựng hoàn thành trưng bày, ngày 21/12/1959, nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/1959), Bảo tàng Quân đội chính thức mở cửa phục vụ khách tham quan.
Nhà 28D Điện Biên Phủ là một biệt thự nhỏ từ thời Tây, sát đường, bên trong là vườn rộng. Căn biệt thự gồm hai căn hộ, mỗi căn chỉ có 2 phòng tầng trên và tầng dưới ( tầng trệt sát đất), mỗi phòng độ hơn 30m2. Ngay cửa vào ở tầng 1 là cầu thang gỗ lên tầng 2. Căn biệt thự chia đôi, bên phía trong là nơi ở của gia đình Tướng Song Hào, cách một khoảng vườn rộng là bãi đất trống đến bệ cột cờ Hà Nội là khu bảo tàng quân đội từ 1954 đến khi Bảo tàng Lịch sử Quân sự mới mở cửa từ tháng 11 năm 2024, tại địa chỉ tại Km 6+500 Đại Lộ Thăng Long, phường Tây Mỗ, Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Từ những năm đầu 1980, thế kỷ XX, tôi được Chú Tố Hữu lúc đó là Phó Chủ Tịch Thường trực Hội đồng Bộ Trưởng, Chú Lê Quang Đạo giới thiệu với Trung ương. Bác Lê Đức Thọ viết trong thư về quyết định đào tạo: -“ Anh Phan (Danh nhân Văn hóa Vũ Ngọc Phan) Chị Phan ( Danh nhân Văn hóa Hằng Phương Nữ sỹ) là chỗ chân tình của Cách mạng ta”.
Trong nhiều sách Chú Tố Hữu ghi tặng tôi, rất trân trọng, dặc biệt khi Chú Tố Hữu đã ghi tặng tôi tại Hội nghị Toàn quốc Ban xây dựng Huyện Trung ương ngày 4/10/1984 tổ chức tại Hội trương Ba Đình có Tổng Bí Thư Lê Duẩn, Chủ Tịch Trường Chinh, Thủ tướng Phạm văn Đồng, cùng tất cả các Vị Lãnh đạo Đảng – Nhà nước đương thời. Lúc này tôi là một thành viên của Ban Xây dựng Huyện Trung ương. Chính tại Ban, tôi được giác ngộ Cách Mạng và hiểu sâu sắc Nhà nước Dân chủ Nhân Dân của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Những Nhà Cách mạng truyền dậy cho tôi ở nhiều tầng lớp xã hội, nhưng người truyền giảng nhiều nhất là Nhà Cách mạng Tố Hữu, Lê Quang Đạo.
Về chế độ Nhà nước Dân chủ Nhân Dân, về Tập thể lãnh đạo, Cá nhân phụ trách, Chú Lê Quang Đạo thường giảng sâu với tôi. Những bài học này đã khai tâm tôi về những đặc điểm Cách mạng Việt Nam, về chính quyền Nhân Dân các cấp từ Trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã rất quan trọng xuất phát trong Lịch sử Dân tộc Việt Nam. Trải suốt hơn 2,000 năm chiến tranh, hòa bình, các thế lực phong kiến Phương Bắc, Thực dân - phong kiến, đế quốc xâm lược Việt Nam, khi làm Lãnh đạo Cách mạng đều suy xét tính cộng đồng Việt nên giữ nguyên như vậy.
Chú Lê Quang Đạo nói: “ Chúng ta giữ Nước thì phải dựa vào Nhân dân. Chỉ có Nhân Dân mới bảo vệ, duy trì được Chế độ Chính quyền Dân chủ Nhân dân”.
Về chân lý của Chính quyền Cách mạng Việt Nam từ 1945 đến nay và mãi sau này được ghi lại một cách giản dị chân lý ấy trong lần Nhà Cách mạng, Nhà thơ lớn của Dân tộc Việt Nam - Tố Hữu khi ra Hà Nội được gặp Cụ Hồ Chí Minh vào năm đầu Cách mạng Tháng Tám 1946.
Chú Tố Hữu nói rất hay và khúc triết về chế độ Nhà nước Dân chủ Nhân Dân qua lần ra Hà Nội lần đầu gặp Chủ Tịch Hồ Chí Minh:
- Nhà thơ Tố Hữu kể: “Mình từ Huế ra Hà Nội. Lúc đó mình là Phó Bí thư Xứ ủy nhưng còn nhỏ con lắm, hăm lăm tuổi thôi mà. Vào gặp Bác cũng như đụng phải núi, cũng ngại ngại chứ. Cảm giác đầu tiên thấy Bác nghiêm nghiêm, mình nghĩ cũng phải: Lãnh tụ phải nghiêm thế. Bác lúc đó đúng như trong tranh Tô Ngọc Vân vẽ đấy. Rồi, Bác bỗng hỏi như người nhà:
- “Chú ra bằng gì?”.
- “Thưa Bác, cháu ra bằng xe ô tô”.
Lại hỏi:
- “Xe của ai?”.
- “Thưa, xe mình”.
Thì cũng chỉ ý nói xe của đằng mình thôi.
Ai dè Bác gặng hỏi:
- “Xe chú đấy à?”.
Mình hoảng quá:
- “Dạ không, thưa Bác, xe của Việt Minh”.
Bác không nói gì. Đó, Bác cụ thể lắm. Bác luôn nhắc nhở, đề phòng cán bộ trở thành những ông “Quan Cách mạng”. Hồi đó, Bác đi cái xe rất tàng.
Rồi Bác hỏi:
- “Bây giờ chú làm gì?”.
- “Dạ, thưa Bác, dân đói, chúng cháu lo cái ăn cho dân, lo tuyển quân phục vụ Nam tiến…”.
Bác hỏi lo cái ăn cho dân thế nào, mình nói chuyện trồng sắn cứu đói, kể lúc trồng sắn trong Hoàng thành, Bác nghe hơi sững lại.
Mình phải nói rõ là chỉ dám trồng ở mấy bãi cỏ thôi.
Bác nhắc đừng trồng ẩu những vườn hoa, di tích…
Nhân đó mình mới hỏi Bác:
- “Bọn cháu ở bí mật ra, không hiểu chính quyền, xin Bác cho kinh nghiệm để về làm”.
Bác nói:
- “Bác cũng mới làm. Bác có làm chủ tịch bao giờ!”.
- “Dạ, nhưng xin Bác chỉ vẽ cho. Bác cho ý kiến như ở Huế thì nên làm thế nào?”.
- “Ờ, cứ hỏi dân, dân ưng cái gì, không ưng cái gì. Người ta ưng cái gì thì làm, không ưng cái gì thì đừng có làm. Làm thế nào cũng hỏi dân. Cử ai làm, cũng phải hỏi dân”.
Tóm lại, chính quyền theo Bác chỉ có ba câu. Sau này ta nói: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra - theo tôi có lẽ không rõ bằng ba câu của Bác. Bác là vậy” – Trích trong bài “Yêu Bác lòng con trong sáng hơn - Phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu.” của Bế Kiến Quốc, in trong tập sách Tố Hữu, về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, tháng 4-1999, tr.145-146.
- Hồ Chủ Tịch: “Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do Dân cử ra”.
Khi đào tạo, cơ may là tôi được đưa đi Đồ Sơn 3 để đào tạo. Đồ Sơn 3 lúc đó là một Khu riêng đặc biệt có quân đội bảo vệ. Đi từ ngoài cổng vào, qua barie và bộ đội gác, nhìn thẳng vào bên trong Khu Đô Sơn 3 thấy ngay biệt thự dành riêng cho Chú ở chân đồi, ở đây họ cũng gọi là Biệt thự Lê Quang Đạo. Tại đây, hồi trước năm 1975 còn có lớp tập huấn cho nhân viên tầu không số để chở vũ khí cho Cách mạng miền Nam. Huấn luyện viên thường đến giảng dậy cho tôi theo nguyên tắc một thầy, một trò.
Chú Lê Quang Đạo ít khi ra đây nghỉ, làm việc.Chú Lê Quang Đạo rất quý tôi, dặn tôi nên thường đến thăm cô chú. Chú nghe tôi rất chăm chú. Chú thường bàn chuyện chính trị, Chú cũng khuyên tôi nên thế này, thế khác. Tính cách Chú giản dị độ lượng, rất cởi mở, hay cười. Khi nói chuyện đến sự thú vị, Chú cười rất to vang nhà.Thường tôi hay đến nhà Chú vào cuối giờ chiều khi đã tan tầm. Nếu đến nhà trước khi Chú đi làm về, tôi đang chờ Cảnh vệ mở cổng mà Chú đi xe về thấy tôi là Chú vội bảo dừng xe, mở cửa xuống xe ra bắt tay tôi rồi vòng tay qua lưng dắt tôi cùng đi vào nhà. Khi công tác bận rộn, tôi chưa đến nhà thăm Cô Chú thì Chú Lê Quang Đạo gọi điện thoại nhắn tôi nếu không bận thì đến Chú. Hồi đó tôi cùng gia đình ở căn hộ P21/ tầng 3/ Nhà Lắp ghép E1 Văn chương. Vợ tôi – Nguyễn thị Tính thường nghe điện thoại về nói lại. Có lần tôi đến vào lúc Chú vừa đi làm về, Chú bảo:
- “ Cháu ngồi uống trà đi, Chú tắm đã”.
Chú lên gác, lát sau xuống, Chú mặc áo may ô trắng, quần đùi trắng, bảo:
- “ Mấy ngày nóng quá không mưa”.
Chú Lê Quang Đạo có dáng người thấp đậm, rất bệ vệ.
Lần đó Chú ngồi nói chuyện với tôi đến tối muộn. Thường các câu chuyện của Chú là kể về chiến tranh Việt Nam, tình yêu nước của Nhân dân Việt Nam, chiến tranh Nhân dân. Đối với các Nhà Lãnh đạo Đảng – Nhà nước và bản thân, Chú rất kiệm lời, chỉ đôi khi Chú kể về Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự kính trọng đến xúc động.
Thời đó sau hơn năm mươi năm (từ 1945 – 1995) nước ta kháng chiến giành Thống nhất, Độc lập và Tự do Đất Nước với Nhật, Pháp, Mỹ và Chư hầu, Kmer Đỏ,Trung Quốc,… đất nước kiệt quệ gần như không phổ biến điện thoại, liên lạc thường phải chạy bộ.

Từ trái sang phải: Nguyễn thị Tính (Vợ Vũ Ngọc Phương), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chú Lê Quang Đạo, cô Nguyệt Tú - vợ chú Lê Quang Đạo, Mợ Lê thị Xuyến nguyên Chủ Tịch đầu tiên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Mẹ đẻ anh Phan Diễn - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương), lấp sau mợ Xuyến là ông Lê văn Hiến nguyên Bộ Trưởng Bộ Tài chính – Là chồng sau Mợ Lê thị Xuyến, Chị Vũ Giáng Hương, Giáo sư Mỹ thuật Quốc gia, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt nam (Chị cả Vũ Ngọc Phương). Anh Lê Cao Đài, Đại tá, Giáo sư Y khoa, Anh hùng lực lượng Vũ Trang Việt Nam (Chồng chị Vũ Giáng Hương). Ảnh chụp ngày 30/4/1981 tại triển lãm Mỹ thuật Vũ Giáng Hương vẽ về Đường Trường Sơn tại tầng 2 nhà Mỹ thuật 16 Tràng Tiền, Hà Nội.
Thực tiễn cuộc chiến tranh Nhân dân giải phóng Dân tộc giành lại Độc lập – Tự do được Chú Lê Quang Đạo phân tích rất giản dị từ lịch sử giữ Nước. Nhận thức của tôi trưởng thành là được Chú Lê Quang Đạo chỉ dẫn và khuyên tôi nên đọc từ các sách để củng cố thêm nhận thức.
Sau này, Nghị quyết Trung ương số 18 – NQ – TW về tinh giảm bộ máy được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 25/10/2017 vẫn giữ nguyên cấp Quận, Huyện như một cấp chính quyền rất quan trọng.
Mấy lần hai Chú – Cháu ngồi nói chuyện mải mê quá cả trưa và chiều tối ngày Chủ nhật, Cô Nguyệt Tứ lên gọi Chú Lê Quang Đạo với tôi xuống nhà dưới ăn cơm, đi thong thả qua khoảng sân sau đến dẫy nhà ngang một tầng ngăn đôi một bên là bếp, phòng ăn nhà cô chú Lê Quang Đạo, một bên là bếp và phòng ăn của nhà. Bữa ăn ngẫu nhiên mấy lần đều na ná nhau: Cơm, một bát canh và một món cá kho, thịt kho mặn,... Câu chuyên lại tiếp tục sôi nổi. Có hôm đến 9g tối Chú Lê Quang Đạo mới tiễn tôi ra cổng và bảo: “ Chú phải lên làm việc, đọc tài liệu,... Cháu về nhé!”.
Về Nhập khẩu Vàng chống Lạm phát, tôi có đến nhà riêng tại 72 phố Phan Đình Phùng, Hà nội, của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (Thủ tướng Chính Phủ) Phạm Hùng để báo cáo và xin ý kiến thực hiện. Lúc đó Anh Phan Diễn đã thôi là Trợ lý cho Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh để sang làm Trợ lý cho ông Phạm Hùng. Nhà 72 Phan Đình Phùng là một biệt thự độc lập 2 tầng giữa một khu vườn rộng nhìn ra đường Phan Đình Phùng. Ông Phạm Hùng vừa làm việc, vừa ở tầng 2. Còn tầng 1 là nơi làm việc của Hệ thống thư ký, giúp việc, bảo vệ. Chỗ ở của mấy người con ông Phạm Hùng và bếp đặt ở nhà ngang một tầng, mái ngói phía sau.
Sau khi báo cáo xong, Chú Phạm Hùng nắm vai trái tôi lắc lắc:
- “ Nghe nói mầy cũng học võ, ráng tập để làm nhiệm vụ cho tốt nghe”.
Ông Phạm Hùng học võ từ nhỏ, nổi tiếng ở Nam Bộ là giỏi võ.
Năm 1987 – 1988 miền Bắc mất mùa thiếu đói trầm trọng, Ông Phạm Hùng trực tiếp vào miền Nam tổ chức thu mua lúa gạo để vận chuyển ra Bắc cứu đói. Vào họp hội nghị đồng bằng Cửu Long, khi ông Hai Hùng (Phạm Hùng) hỏi số lượng thóc gạo đã mua là bao nhiêu? Hội nghị im lặng, mãi sau mới có một Vị báo cáo vì thiếu tiền đã bán hết, … Uất quá, Ông Phạm Hùng im lặng rồi bỏ vào phòng bên lên nằm trên ghế xích đu. Sau thấy lâu quá Ông Phạm Hùng không ra họp tiếp, cảnh vệ tiếp cận vào gọi, thấy Ông Phạm Hùng nhắm mắt, tưởng Ông Hai Hùng ngủ. Sau gọi mấy lần không được, người Cảnh vệ đến bên lay vai Ông thì Ông Phạm Hùng đã bị cơn nhồi máu cơ tim mất rồi!
Cảnh vệ gọi to mọi người,… Anh Phan Diễn lúc đó chạy vào cùng mấy người đưa Ông Phạm Hùng về thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu may ra còn cứu được. Hôm đó nhằm vào ngày 10/03/1988, ông Phạm Hùng hưởng thọ 76 tuổi. Vị Lãnh đạo Chính phủ thay Ông Phạm Hùng là Ông Võ Văn Kiệt, Phó Chủ Tịch Thường trực Hội đồng Bộ Trưởng (Nay là Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ). Tang lễ được tổ chức tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội theo nghi thức quốc tang trong 2 ngày 13-14 tháng 3 năm 1988, an táng Ông Phạm Hùng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà nội .

Ông Phạm Hùng,
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng,
Thủ Tướng Chính Phủ.
Về quá trình thực hiện Nhập Vàng chống Lạm Phát sau này tôi ghi rõ trong Báo cáo tường trình: “ Tôi có gặp trực tiếp Đ/c Phạm Hùng Thủ tướng Chính Phủ, Đ/c Võ Văn Kiệt và Đ/c Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) một lần. Phương án tổ chức là do các Đ/c Lãnh đạo xét duyệt và chỉ đạo” – Trích nguyên văn Báo cáo về “Nhập Vàng chống Lạm phát” ngày 10/11/2005.
Trong thập kỷ đầu 1980/ Thế kỷ XX, một vị Lãnh đạo tối cao của Đảng – Nhà nước gọi tôi lên nói: “ Cháu về nhận nhiệm vụ ở Hà Nội, ở trên này không thực hiện được”. Ít lâu sau, tôi nhận được điện thoại của Anh Trần Tấn, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân Thành phố Hà nội hẹn gặp tôi trực tiếp. Tôi nhớ vào một buổi chiều trời lạnh, mưa phùn, đường vỉa hè rụng đầy lá của hai hàng cây Nhội, tôi đi bộ từ phố Trần Nguyên Hãn rẽ sang phố Lý Thái Tổ, đến ngã năm quảng trường trước Ngân Hàng Nhà nước thì qua đường Ngô Quyền để vào tòa nhà 2 tầng của Lãnh đạo Thành Ủy Hà nội. Anh Công an gác cổng đã được dặn từ trước cúi chào rồi hướng dẫn tôi đi theo thang gỗ lên tầng 2 thì Anh Trần Tấn đã ngồi chờ. Lần đầu tôi được gặp Anh Trần Tấn, sau khi rót trà mời tôi, Anh Trần Tấn hỏi tôi về tình hình chính trị trong nước thế giới, cách giải quyết. Tôi trả lời xong Anh Trần Tấn nói:
- “ Em trả lời đúng, ấn tượng về em thật tốt. Tôi sẽ báo cáo lại!”.
Tôi được điều về Hà Nội ít lâu đang rất bận vì công tác thì tối ngày 19/5/1988 nhận được điện Khẩn của Anh Trần Tấn: “ Cậu giải quyết nhà 53 Hàng Chuối giao cho Hãng Robland là Đại diện Thương mại Pháp đang đầu tư cho Hà Nội. Thế nào mà Robland cứ nhất định phải có Văn phòng tại 53 Hàng Chuối, họ đã chuyển tiền 50,000USD cho ta rồi,..!”, nói xong Anh Trần Tấn đặt điện thoại như có việc gấp.
Từ năm 1954, giải phóng miền Bắc khỏi thống trị của Thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý Vàng bằng cách cấp Giấy Chứng nhận Vàng. Dân chỉ đăng ký vài lạng (37,5gram) còn thì giấu đi. Luật Nhà nước chỉ cho phép sử dụng tiền Ngân hàng trong các cơ quan thuộc sở hữu Nhà nước, kiểm tra và giao dịch rất nghiêm. Hơn nữa đến những năm 1975 – 1995 Ngân sách Nhà nước rất hạn hẹp, vì thế mua một Nhà thuộc sở hữu Tư nhân bị cấm. Nhà 53 Hàng Chuối – Hà nội thuộc diện sở hữu tư nhân sau cải tạo Công thương nghiệp Tư bản, Tư doanh ở miền Bắc kể cả miền Nam lúc đó. Sự kiện đổi tiền tháng 10/1985 làm lạm phát phi mã tăng đến 780%.
Nghe điện thoại của Anh Trần Tấn xong tôi điện thoại trực tiếp cho Anh Đoàn Duy Thành lúc đó đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ tướng) phụ trách Tài – Mậu (Tài chính – Mậu dịch), Anh Đoàn Duy Thành nghe điện thoại một lát im lặng rồi nói:
-“ Chỉ có cách duy nhất là lấy từ cái Lô Cốt (Chỉ Ngân Hàng Nhà nước lúc đó là Anh Lữ Minh Châu làm Tổng Giám đốc) việc này chưa ai làm nhưng chắc phải Bộ Chính trị quyết định,… Cậu phải suy nghĩ kỹ”.
Nói xong Anh đặt tay nghe điện thoại xuống máy.
Tôi đi nằm dưới phản gỗ thông dưới sàn suy nghĩ cả đêm, gần sáng mới chợp mắt ngủ được một lúc thì đã hơn 5g sáng. Tính và hai thằng bé nằm trên gường Cha Mẹ để lại vẫn còn ngủ say. Sáng hôm sau để thực hiện Lệnh của Anh Trần Tấn, trời nắng nóng từ sáng sớm, tôi đã đến phòng làm việc ở gác 2 ở cánh nhà bên nhìn ra Vườn hoa Chí Lình. Trước đây là Tòa Thị chính Pháp còn gọi là Tòa Đốc Lý Hà nội, hoàn thành xây từ năm 1887 tọa lạc tại khu đất trung tâm nhìn ra Hồ Gươm, ngày nay là trụ sở UBND Thành phố Hà Nội số 79 Đinh Tiên Hoàng, Hà nội. Phòng làm việc của Anh Trần Tấn trước là Phòng làm việc của Chủ Tịch Hà nội Trần Vỹ, nhưng trong phòng không có ai. Tôi hỏi mấy người công chức đi qua, họ đều không biết Anh Trần Tấn đi đâu. Tôi trở lại hai lần nữa vào sát giờ nghỉ trưa và giữa giờ chiều cũng không gặp Anh Trần Tấn. Tôi đành xuống tầng trệt có phòng Phó Chủ Tịch Hà Nội Nguyễn Mại, chiều hôm đó nóng hầm hập, Anh Nguyễn Mại đang ngồi bệt dưới đất với Anh Trần Đức Lương gầy đen vì nắng gió. Anh Trần Đức Lương mim cười chào tôi. Sau khi nghe tôi báo cáo nhiệm vụ, Anh Nguyễn Mại hý hoáy viết thư tay gửi ông Sáu Dân - Võ Văn Kiệt lúc đó là Quyền Chủ Tịch Hội đồng Bộ Trưởng (Thủ Tướng Chính phủ bây giờ) viết xong Anh Nguyễn Mại cầm thư qua Văn thư đóng dấu “ TỐI MÂT” vì lúc đó Mỹ và Trung Quốc rình phá bất cứ việc gì phát triển của Ta. Nhận thư xong, tôi viết thêm bên dưới để Chú Sáu Dân - Võ Văn Kiệt rõ thêm sự khẩn cấp. Đạp xe lên đến nhà 57 Phan Đình Phùng, Hà nội đã cuối giờ chiều. Cảnh vệ gác cổng thấy tôi mở ngay cổng, vừa vào Cảnh vệ của Chú Sáu Dân ra đón nói:
- “ Chú Sáu sắp về, anh lên phòng chờ”.
Tôi ra ngồi bệt lên bậc thềm cầu thang lên tầng 2, được một lúc cổng mở Chú Sáu Dân bước vào, tôi vội đứng lên ra đón, báo cáo ý kiến Anh Trần Tấn đưa Chú thư của Anh Nguyễn Mại. Chú Sáu Dân hiểu ngay, cười nhận thư rồi giơ một ngón tay lên ra hiệu cho tôi:
- “ Sáng mai 5g cậu đến nhận”.
Sáng 21/5/1988 tôi đi sớm đến nhà 57 Phan Đình Phùng từ hơn 5g, vừa qua cổng nhà, Chú Sáu Dân còn mặc quần đùi, áo may ô đã chạy xuống đưa tôi thư Chú đã viết ngay bên cạnh:
- “ Đồng ý cho Ngân hàng nhà nước tạm xuất 3,5 Kg vàng cho Hà Nội vay” Ký dưới KIỆT rồi còn ghi rõ “20/5 Võ văn Kiệt”.
Tôi nhận, cảm ơn Chú Sáu Dân, rồi sang Văn Phòng Chính phủ đợi đến giờ làm việc vào xin dấu Chính Phủ. Chị Văn thư hết chằm chằm nhìn tôi rồi lại nhìn chữ viết và ký của Quyền Chủ Tịch Hội đồng Bộ Trưởng, sau một lúc im lặng, chị đóng dấu Chính Phủ lên chữ viết tay của Chú Sáu Dân.
Tôi về Ngân Hàng Nhà nước gặp Anh Lữ Minh Châu, Tổng Giám đốc. Sau khi xem xong Anh Lữ Minh Châu gọi ngay cho Anh Lê Hoàng có dáng người cao gầy đến gặp giải quyết. Tôi trở lại Văn phòng Ủy ban Thành phố Hà nội thảo văn bản gửi Sở Công An Hà nội cử bảo vệ mang súng AK đi cùng tôi áp tải 3,5kg Vàng về Văn phòng Ủy Ban giao cho Ngân Hàng Nhà nước Hà nội cất giữ. Sau khi đã mua và nhận nhà 53 Hàng Chuối, Hà nội, tôi có văn bản yêu cầu An ninh kiểm tra xem trong nhà, dưới đất có chôn dấu gì không mà tại sao Đại diện Thương mại Pháp nhất định phải giao nhà này cho họ? Giải quyết tất cả mọi việc rồi giao nhà 53 Hàng Chuối, Hà nội cho Hãng Robland Đại diện Thương mại Pháp.
Xong việc bàn giao tôi đến Anh Đoàn Duy Thành, Chị Tâm – vợ Anh, lúc đó tạm ở một phòng có 18m2 phía sau giáp phố Nguyễn Khắc Cần báo cáo Anh rồi tôi trở lại làm tiếp những nhiệm vụ khác đã giao.
Một trong những nhiệm vụ đó là đưa Vàng vào lưu thông, thu tiền trả nợ và chống Lạm phát. Anh Trần Tấn thông báo ý kiến của Trung ương trực tiếp với tôi:
-“ Em xem cách chế tác Vàng làm nhẫn 96, 98 (Tỷ lệ Vàng đã pha Bạc để thấp tuổi) ở các nước họ có Cameral giám sát, mình không có thì làm cách nào? Sau nữa là phải tìm địa điểm an toàn, bí mật để làm”.
Anh Trần Tấn đưa tôi một hộp có các mẫu Rubi nhiều mầu để nghiên cứu. Sau nhiều lần thử nghiệm và cầm các viên lẻ đi hỏi thêm những người gia công ở phố Hàng Bạc, Tạ Hiền,.. đã truyền thống mấy đời, tôi tìm ra một cách rất đơn giản để xác định thật giả. Sau khi báo cáo, tôi trả lại Anh Trần Tấn hộp Rubi.
Về tìm địa diểm, tôi đạp xe đi khắp Hà Nội, vào cả làng, xã,… Nhiều ngày về muộn Căn hộ tầng 3 phòng 21/E1 Văn Chương, người toàn bụi đất, tôi cởi bỏ quần áo ngoài treo ngoài chỗ để xe đạp chen chúc ở cửa vào, mặc quần đùi áo may ô ngồi dưới sàn nghỉ. Vợ tôi Nguyễn thị Tính không hỏi gì, lẳng lặng đi pha nước đường cho tôi uống. Sáng sớm hôm sau, tôi mặc lại quần áo ngoài ngày hôm trước để đi tiếp tìm địa điểm. Tôi đóng vai đi tìm gia đình ra Hà nội kiếm sống. Cuối cùng tôi tìm được trên một đường không tên, trải đá pha cát, đất có một bên là Ban Cơ yếu Trung ương, Công ty Ong Việt Nam, đối diện qua một nhánh sông Tô Lịch với cầu lát gỗ khập khiễng vào Trường Phụ Nữ rộng mênh mông, trên khu đất tiêu điều là các dẫy nhà một tầng mái lá, sân trường lưa thưa mấy người đi lại,… Cùng với việc đi tìm địa điểm, hàng tối thử nghiệm nhiều lần cách kiểm tra giao nhận Vàng gia công cuối cùng cũng tim ra cách đơn giản, dễ làm, chính xác.
Tổng hợp đợt công tác và phương pháp kỹ thuật, tôi đã báo cáo chi tiết trực tiếp với Anh Trần Tấn, mấy ngày sau Anh Trần Tấn mới nói với tôi rất ngắn gọn: “ Đổng ý”.
Đường đất gập gềnh đó nay chính là Đại lộ Nguyễn Chí Thanh bây giờ, khi mở rộng đường, nhánh sông Tô Lịch năm xưa đã được Sở Giao thông Công chính Hà nội xây dựng kè tạo thành cống có nắp bê tong cốt thép đậy lên. Sau để có quy chế làm việc, Thường trực Thành ủy Hà Nội quyết định giao cho Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Trần Tấn trình Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) quyết định cho phép Công ty Du lịch Dịch vụ Hà nội được phép giao dịch trực tiếp với các Tổ chức Nước ngoài. Ngày 09/05/1988 Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ Trưởng Hồ Ngọc Nhường ký văn bản số: 1153 – V7 cho phép “ Công ty Du lịch Dịch vụ Hà Nội được ký hợp đồng trực tiếp với nước ngoài.

Văn bản số 1153 – V7 của Văn phòng Hội đổng Bộ Trưởng nay là Văn phòng Chính Phủ.
Như vậy đã đủ các thủ tục cần thiết, Công ty Du lịch Dịch vụ Hà Nội trưc tiếp với Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố để tham gia các vấn đề cấp bách nhất của Đất Nước lúc đó là Tiền – Vàng chống lạm phát, lương thực, quan hệ đối ngoại trực tiếp với nước ngoài và tham gia hỗ trợ công tác An ninh – Quốc phòng.
Cuối năm 1988, các cơ quan kinh doanh ở Hà Nội có phong trào sát Tết Nguyên Đán các cơ quan in lịch ảnh có các cô gái mặc áo tắm. Thời kỳ đó tôi nhận biếu khoảng 5, 7 cuốn lịch, đưa về nhà vợ Nguyễn thị Tính mang ra trước Ga Hàng Cỏ bán được từ 2,500 đVN đến 3,200 đVN gom lại cũng đỡ Tiền ăn Tết. Nghe nói lịch treo tường in chất lượng cao còn bán được đến 6,500đVN một cuốn. Vàng lúc đó giá tăng vọt lên 3,500,000. đVN / 1 lượng 98% (Một lượng Vàng nặng 37,5gr. Vàng thêm Bạc vào thì giảm chất lượng còn 98% Vàng, thời kỳ Sốt Vàng người ta còn cho thêm Đồng vào để thành Vàng 97% nên nhìn kỹ Vàng hơi xanh). Để có tiền trang trải cuộc sống gia đình vợ và hai con nhỏ, tôi nhận thêm những việc linh tinh mới mạnh nha ngoài xã hội. Có lần nhận kẻ khẩu hiệu tường rào trường phổ thông Hai Bà Trưng dọc đường phố Hàng Bài, tôi phải đội mũ rộng vành, mặc áo rộng để ai đó không nhận ra cán bộ của Ủy Ban Nhân dân thành phố Hà nội, kẻ viết hết ba ngày Chủ Nhật.

Nhớ lại, tôi về Hải phòng đầu năm 1983, lúc đó tính đủ năm tháng thì tôi vừa được 32 tuổi 4 tháng. Tôi được Anh Đoàn Duy Thành - Bí thư Thành ủy Hải Phòng khi đó rất quý trọng, đang họp nghe tin tôi về, Anh dừng cuộc họp ra bắt tay tôi, hỏi mấy câu rồi mới trở lại họp tiếp. Chị Tâm vợ Anh dẫn tôi xem vườn trong nhà công vụ Anh được ở phố Đinh Tiên Hoàng, Hải phòng. Vườn rộng, chị Tâm trồng thêm mấy cây chuối tiêu lùn, chị dẫn tôi xem mấy nải chuối to, còn xanh. Trưa ăn cơm xong, chi Tâm bảo:
-“ Chú dậy thì tắm, chị đã đun nước cho chú để dưới bếp. Chú tắm khỏi lạnh”,
đấy là mùa Đông, Hải Phòng có biển ấm hơn Hà Nội. Anh Đoàn Duy Thành nói:
-“ Chú thiết kế mẫu cho Nhà Dân dọc đường tuyến Hải Phòng – Đồ Sơn”.
Có lần tôi đi xe máy từ Đồ Sơn về Hải Phòng gặp xe oto của Anh Đoàn Duy Thành từ Hải Phòng về, thấy tôi, Anh bảo dừng xe, cậu Lộc Cảnh vệ xuống mở cửa để Anh ra gặp tôi,…Đầu năm 1985, nhân dịp Năm mới, Anh Đoàn Duy Thành có tặng tôi thơ Mừng Hải phòng của Chú Tố Hữu

Mặt thiếp Chúc mừng Năm mới đóng dấu Thành ủy Hải Phòng

Bút tích Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ tường Thường trực Chính Phủ), Nhà thơ Tố Hữu in trên Thiếp Chúc mừng năm mới 1985 của Thành ủy Hải Phòng.
Tình cảm thân thiết của Anh Đoàn Duy Thành và chị Tâm sau này khi Anh Chị về Hà Nội cũng vẫn như thế, lần nào đến Anh Chị đều cố giữ tôi lại ăn cơm trưa, cơm tối. Có mấy lần hai Anh Em nói chuyện đến 2g sáng. Anh Lộc Cảnh vệ ở lại Hải Phòng. Tôi được giữ ăn cơm ở nhà riêng các Vị Lãnh đạo Đảng – Nhà nước đến tận Anh Nguyễn Phú Trọng khi đã là Tổng Bí Thư. Nhưng hay ăn cơm nhất là ở nhà Anh Đoàn Duy Thành, Chị Tâm – Vợ Anh, tôi nhớ mãi nhưng bữa cơm bất chợt vì bàn việc quá dài, Anh Chị Đoàn Duy Thành gần như bữa nào cũng có món cá biển kho hay canh riêu rất thơm ngon, tất cả cơm nước do Chị Tâm làm.

Ông Đoàn Duy Thành,
Phó Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại.
Tình cảm thân quý, trân trọng của Anh Chị Đoàn Duy Thành với tôi còn mãi đến tận ngày Anh Đoàn Duy Thành từ trần hồi 6 giờ 43 phút, ngày 06/02/2026 (tức ngày 19 tháng Chạp năm Ất Tỵ) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà nội, hưởng thọ 97 tuổi.
Trong những nhiệm vụ của Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trường Bộ Kinh tế Đối ngoại, Anh Đoàn Duy Thành đã trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong như sau:
- Báo Tiền Phòng số 33 phát hành ngày 17/8/2003 mục Tư liệu của tác giả Sáu Nghệ đăng ghi lại
“ Chuyện khoán 10 và nhập 160 Tấn vàng – Lần đầu tôi nghe kể” - Trích nguyên văn tại dòng 105 đến hết bài phỏng vấn – PV: Còn vụ nhập 160 tấn vàng hồi ông làm Bộ Trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại, sau này có người tung tin là do ông Đoàn Duy Thành bịa chuyện?
Ông Đoàn Duy Thành cười nhẹ nhàng: “Tôi bịa để làm gì?”. Cuối năm 1987, có cuộc họp của Trung ương về kinh tế, tôi trình bầy phương án kinh tế trong đó có nhập vàng nhưng không được chấp nhận. Kết thúc hội nghị, tôi có trình bầy với đồng chí Phạm Hùng là cần nhập vàng để lấy chêch lệch giá thì mới giải quyết được lạm phát phi mã. Đại diện Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế nói với tôi là phải có 1,7 tỷ đến 3 tỷ USD thì mới trị nổi lạm phát 3 con số này,… Có vàng sẽ ổn định vật giá, cộng với việc cho nhập hàng tiêu dùng không phải đóng thuế nhập khẩu của học sinh, sinh viên, cán bộ đi công tác nước ngoài về, cùng với các biện pháp khác có thể trị được lạm phát. Đồng chí Phạm Hùng đồng ý, bảo tôi sang báo cáo đồng chí Nguyễn văn Linh – Tổng Bí thư. Tôi sang báo cáo, đồng chí Nguyễn văn Linh đồng ý. Đồng chí Phạm Hùng và đồng chí Võ Văn Kiệt giao cho tôi thực hiện, nhập khoảng 160 tấn đến 200 tấn vàng. Tôi giao cho một số công ty nhập (Quốc doanh lúc đó cả nước không có Công ty Tư nhân – Ghi chú của VNP), mỗi công ty từ 300Kg đến 50 tấn. Riêng thành phố Hồ Chí Minh nhập 50 tấn. Đến tháng 4/1990 khi tôi thôi giữ chức Bộ Trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại thì các tỉnh thành phố đã nhập được khoảng 160 Tấn vàng, góp phần quan trọng vào việc chống lạm phát, từ chỗ lạm phát 780% năm 1986 xuống còn 67% năm 1990, giảm hơn 10 lần.

Trong việc nhập vàng có một chuyện ở Hà Nội, tôi kể ra đây vừa là chuyện vui vừa để rút kinh nghiệm chung. Đổng chí Trần Tấn - Chủ Tịch UBND thành phố Hà Nội đề nghị cho Hà Nội nhập 5 tấn, tôi cho nhập 10 tấn và nói cần nhập nhanh để bán thu ngoại tệ vì giá nhập so với giá bán chênh nhau đến 3 lần. Khi thực hiện chậm, 6 tháng sau mới nhập được 900kg vàng bằng đường thủy từ Hống Kông về, đến Hải Phòng các đồng chí sợ đi đường 5 bị cướp mất nên đi qua Nam Định để về Hà Nội cử cả công an có vũ trang áp tải. Tôi bảo đồng chí Vũ Ngọc Phương: “ Có 900kg vàng cho vào cái xe u oát, ban ngày chạy một mạch về Hà Nội là xong, sợ gì mà phải đi vòng cho mất thì giờ”. Vì quá cẩn thận, khi vàng về không gửi ngay vào Ngân Hàng mà để một đêm ở Văn phòng UBND thành phố, hôm sau mới đem gửi Ngân Hàng sịnh ra sự tò mò của cán bộ ở Văn phòng UBND thành phố và các cơ quan xung quanh bàn tán” – Hết phần trích nguyên văn.
Theo chỉ số thu nhập thực tế được tính trên nền giá sinh hoạt năm 1960 (gán giá trị 100), mức thu nhập của các hộ gia đình công nhân và viên chức nhà nước ở miền Bắc năm 1976 chỉ đạt khoảng 81,8 điểm và giảm xuống còn 57,8 điểm vào năm 1980. Như vậy, ngay cả năm 1976, thu nhập cũng chỉ đủ đáp ứng khoảng 80% mức sống của năm 1960, và đến năm 1980 thì giảm xuống còn chưa đến 60%.
Nhiều báo chính thống cũng đăng sự kiện Nhập Vàng chống Lạm phát của Ông Đoàn Duy Thành như sau: “Vào năm 1986, khi giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, giữa lúc nền kinh tế siêu lạm phát, ông đã cho nhập 160 tấn vàng để kiềm chế lạm phát, đồng thời xóa bỏ độc quyền ngoại thương, mở đường cho doanh nghiệp tự chủ trong xuất nhập khẩu”.
Anh Đoàn Duy Thành khi đương nhiệm Phó Thủ tướng Chính Phủ đã nhiều lần nói trước hội nghị: “ Chỉ cần Công Tâm, đúng Pháp luật, cảm ơn Vàng đã chất đầy tủ !”.
Cảm ơn không phải là hối lộ, tham nhũng.

Ông Đoàn Duy Thành
Khi đương nhiệm Phó Thủ tướng Chính Phủ
Khi đã được Lãnh đạo Cấp cao Trung ương chuẩn y, gần trưa một ngày đầu Hè 1987 có công văn “Hỏa tốc Tuyệt Mật” chuyển xuống Bí Thư Thành ủy Hà Nội, Chú Nguyễn Thanh Bình, Bí thư Thành ủy Hà nội cho lái xe riêng tìm đón tôi lên ngay Thành ủy Hà Nội. Khi tôi từ cơ sở về đến Cơ quan, cô Vương Thanh, Phó Phòng Tổ chức chạy ra đón tôi ở cổng:
- “ Anh lên ngay Thành Ủy có việc gấp, Bí thư vừa cho xe đón anh không thấy,…”.
Cô Vương Thanh vừa nói xong thì xe oto Lada mầu xanh dương giành riêng cho Chú Nguyễn Thanh Bình quay lại, vừa đỗ lại, lái xe mở cửa nhẩy xuống vừa thở vừa nói:
- “ Tìm anh hết hơi, Bí thư đang chờ,…Mời anh lên”.
Xe chạy tốc lực vượt qua những đường phố buổi trưa nắng vắng người rồi chạy thẳng vào tòa nhà biệt thự 2 tầng đầu tiên sát đường Ngô Quyền, khi tôi lên tầng 2, chú Thanh Bình, anh Trần Tấn, anh Trần Lưu Vỵ, anh Lê Văn Viện,.. đã chờ sẵn. Chú Nguyễn Thanh Bình phổ biến nhiệm vụ và chính thức giao cho tôi nhiệm vụ Nhập Vàng chống lạm phát. Nói xong, hội nghị không ai có ý kiến gì, Chú Nguyễn Thanh Bình bắt tay tôi nói:
- “ Quyết thắng!”,
Tôi im lặng một lúc rồi nói: “ Vâng,…”
Sau thời gian chuẩn bị, trước khi thực hiện nhiệm vụ, tôi có nói sơ qua công tác mới với vợ, Nguyễn thị Tính im lặng. Lúc đó tôi cùng vợ Nguyễn thị Tính và hai con trai bé đang ở căn hộ 24m2 số 21/ Nhà lắp ghép E1 Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội, tôi cất trang bị cá nhân vào tủ, che quần áo lên trên. Rồi một đêm đã khuya ngày 21/03/1989, cả nhà đang ngủ yên chợt chuông điện thoại reo vang, đầu giây bên kia nói: “ 1g20 sáng xe đón”. Tôi lặng lẽ trở dậy rửa mặt, đánh răng, thay quần áo, nai nịt trang bị sát vào áo đông xuân.Tính đã dậy từ bao giờ ngồi dậy trong màn bảo:
- “ Minh có vì đã nói với các ông ấy mà nhận việc nguy hiểm thế không?”.
Tính là người rất thông minh, ít nói và hiền một cách dịu dàng.Tôi cười động viên Tính. Hai con trai Vũ Trường Khanh sinh đầu năm 1976, Vũ Thượng Văn sinh cuối năm 1978, cả hai đứa mặc quần đùi, áo may ô đang ngủ say,…Xe Vonlga đen đến dưới sân giữa nhà lắp ghép E1 và D1, tôi vào xe đi không một lời chào hỏi, xe chạy vun vút qua các đường phố yên tĩnh đang ngủ say, xe ra ngoại thành tối đen,…
Bên trong câu chuyện lúc đó là thế này:
- Anh Đàm Hồng, quê nhà ở Đông Anh, Hà Nội là Chánh Văn phòng UBND thành phố Hà Nội nhận mật điện lúc 2g sảng “ Về ngay Văn phòng”. Trước đó khi nhận nhiệm vụ ở Thành ủy, Thường trực UBND thành phố Hà Nội năm 1987, tôi đã báo cáo Bí thư Thành ủy Nguyễn Thanh Bình, Ủy viên Bộ Chính Trị Trung ương, Anh Trần Tấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là nên chọn từ Bộ đội Đặc công vì thiện chiến và giữ nghiêm kỷ luật. Được chấp nhận, tôi được cử đến gặp trực tiếp đồng chí Trung tướng Lư Giang, Tư lệnh Quân khu Thủ đô tại Nhà riêng trong Tập thể Bộ Tư lệnh Thủ đô trong ngõ phố Y EXANH (Nay là số 4 Tập thể Quân đội phố Y Exanh, Hà nội) để đảm bảo công tác Đặc biệt, mỗi lần đi công tác có bảo vệ sẽ chọn 02 người ở Trung đoàn Đặc công - Đặc nhiệm 47 đóng ở Thanh Xuân, trên đường Lương Thế Vinh (kéo dài sau này).
Sau khi bàn xong, Anh Lư Giang hỏi tôi:
- “ Tiêu chuần chọn người bảo vệ của đồng chí thế nào?”,
Tôi trả lời Anh:
- “ Nếu đánh được em thì chọn”.
Sau chọn được 10 người thay phiên đi cùng tôi. Đến tháng 10/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho giải Mật, tôi đã vào Lưu trữ Trung ương chọn ra 02 bản Scant giấy Giới thiệu Vụ việc Anh Đoàn Duy Thành kể với Phóng viên Báo Tiền phong đã nêu ở trên.
Về căn nguyên Vụ việc là khi xuống tầu và cập bến Chùa Vẽ, Hải Phòng – Thuyền Trưởng tầu Hòa Bình có trọng tải 3,000 tấn lúc đó là Anh Bùi Quang Nhận người Thái Bình, có tặng tôi một quả táo đỏ hương thơm ngát cả một khoang tầu và một túi nhỏ vải dù có ghi tên Bùi Quang Nhận dùng đeo sát người đã chuyển từng thỏi vàng xuống tầu.
Khoảng 2g20 đêm về sáng hôm đó tôi nhận được Mật Điện “ Có người ra đón”. Có Điện Mật báo là do nguyên nhân một đồng chí Lãnh đạo tối cao Trung ương không đồng ý “vay tiền không mua phân Đạm cho nông nghiệp lại nhập Vàng”, vì vậy đã giao cho một lãnh đạo An ninh cấp Cục Trưởng của một Bộ chặn bắt để vu cho tôi tội “ Buôn lậu qua biên giới” vì biết tài liệu Tuyệt Mật rất khó để Giải Mật, như thế sẽ hết “Nhập Vàng chống Lạm phát”!
Một trong những Giấy giới thiệu bảo vệ trong Công tác Đặc biệt do Đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Trung tướng Tư lệnh Quân khu Thủ đô Lư Giang ký.Vũ khí trang bị gồm súng tiểu liên AK báng gấp, sung ngắn K59, dao găm, muối thỏi, lương khô, bidon nước.
Tôi hiểu ý nên khi lên bờ Cảng Chùa Vẽ, Hải phòng, tôi lệnh thuê một xe vận tải thường rồi cho cẩu chất các Contener xe máy trong để két chứa vàng lên khoang chở hàng rồi cùng hai đồng chí Đặc công bảo vệ lên xe chạy ra ngoài đi vòng Nam Định về đến Hà Nội khoảng 4g sáng, Anh Đàm Hồng đã chờ sẵn đưa “Hàng” vào phòng làm việc của Anh. Sáng hôm sau trả lại Trung ương, còn Hà Nội chỉ được có 20Kg vì mua bằng tiền là của Trung ương.
Khi trở về Hà Nội, tôi đã chuyển quả táo cho Anh Trần Tấn, còn túi nhỏ của Anh Bùi Quang Nhận thì tôi giữ lại kỷ niệm.
Thời kỳ 1985 đến 1992 tôi gần như thường xuyên đến Anh Hà Nghiệp, Anh Nguyễn văn Thanh để học hỏi và bàn rồi xin ý kiến về công việc. Lúc đó tôi đã được Trung ương giao về công tác tại Ủy Ban Nhân Dân Hà nội có Bí Thành ủy là Chú Nguyễn Thanh Bình, Chủ Tịch Ủy Ban ND là Anh Trần Tấn, Phó Bí thư Thường trực là Anh Trần Lưu Vỵ. Các Anh Trần Tấn, Trần Lưu Vỵ cùng ở trong nhà 43 Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà nội là một biệt thự Tây cổ, một bên là phố Lý Thái Tổ, một bên là phố Ngô Quyền với hàng cây sấu già. Từ sảnh tầng một rẽ phải lên cầu thang gỗ rộng chừng 2m là phòng Anh Trần Tấn ở mình, phòng rộng khoảng 18m2 nhìn ra đường Ngô Quyền, sàn lát gỗ, mùa hè rất nóng. Đồ trong phòng rất đơn sơ chỉ có một bộ ghế gỗ uống nước trà, một tủ nhỏ treo quần áo, một gường một cán bộ trải chiếu sộc xệch, . . . Tất cả đánh vecni rẻ tiền nên đỏ quạch. Thẳng phòng tầng trệt dưới là nơi ở của Anh Trần Lưu Vỵ với cả gia đình vợ yếu, con nhỏ rất nheo nhóc, trong phòng kê hai dẫy gường cán bộ kê nối nhau. Con Anh Trần Lưu Vy. còn nhỏ, gầy yếu, hay cảm sốt, gần như chiều tối nào đến làm việc ngoài giờ cũng thấy cháu nhỏ khóc mếu.
Mấy năm sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, một chiều đã muộn tôi đến chào tạm biệt Anh Trần Tấn. Hôm đó Anh bận, trời đã tối cậu Bảo vệ tên là Duông đi nhận gamel cơm chiều ở khách sạn Phú Gia về cũng phải đợi. Hai anh em đứng trên hành lang ở cầu thang. Mãi lâu sau đã tối muộn Anh Trần Tấn mới về, Anh đi lên gác thấy tôi bảo: “ Em đợi chắc lâu rổi”.
Mở cửa phòng nhỏ, Anh thắp bếp dầu, đứng chờ nước sôi pha trà rồi rót mời tôi, Anh bảo:
-“ Em uống trà”,
Im lặng, một lúc sau Anh Trần Tấn mới nói giọng nghẹn ngào:
- “ Tiếc là Anh Em gặp nhau muộn quá !” .
Đưa tiễn tôi xuống nhà, ra ngoài cổng thì đêm đã về khuya, tôi đạp xe một đoạn ra quảng trường Ngân hàng Nhà nước trên phố Ngô Quyền rủ bóng hàng cây Me, quay lại thấy Anh Trần Tấn mặc áo sơ mi trắng vẫn đứng trước cổng.
Ít lâu sau Anh Trần Tấn nhận nhiệm vụ mới từ tháng 3 /1990 đến tháng 9 /1995 ông giữ chức Bí thư Ban Cán sự Đảng ngoài nước (nay là Đảng ủy Ngoài nước) . Anh Trần Tấn có tên khai sinh là Đoàn Ráng, sinh ở xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội cùng làng với Tổng đốc Nam Định Đoàn Triển – một Nhà Nho nổi tiếng văn học cuối Triều Nhà Nguyễn. Ông Đoàn Triển có Bàn thờ rất trang trọng tại Phủ thờ Thánh Mẫu ở Phủ Dầy, Nam định.
Tôi nhiều lần có đến thăm Anh ở tầng 2 nhà công vụ số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu, Hà nội. Khi Anh Trần Tấn đã nghỉ công tác, lần nào đến Thành phố Hồ Chí Minh là tôi đến ghé thăm Anh Trấn Tấn và Người vợ - Chị Hậu ở đường Hai Bà Trưng. Đến khi Anh Trần Tấn bị tai biến mạch máu não đi lại khó khăn, không nói được, tôi đến thăm Anh òa lên khóc to giọng khàn khàn. Rồi một ngày tháng 06 năm 2010, Hương Giang đọc báo thấy tin Lễ tang Anh Trần Tấn đã qua đời, không thể kịp vào dự, Hương Giang đặt mua một vòng hoa nhờ cửa hàng mang đến Lễ tang Anh,.... Tôi nhớ không quên những ngày tháng được làm việc dưới quyền Anh Trần Tấn – Một Nhà lãnh đạo Anh minh, quyết đoán, suốt đời tận tụy vì Dân, đến lúc về Lãnh đạo Hà Nội lại đã vì Nhân Dân Hà nội mà quên mình.
Bấy giờ máy chữ hiếm và quý, chỉ có cơ quan nhà nước được cấp trang bị, đánh máy chữ là một Nghề chuyên môn, khi học phải tra xét lý lịch để bảo mật các văn bản. Sau khi ngồi lỳ tại phòng Anh Nguyễn văn Thanh để đánh máy xong 3 bản lót giấy than bên dưới thì chiều đã muộn, tôi cầm một bản đưa sang để trên bàn Anh Hà Nghiệp, một bản đưa Anh Thanh.
“ Thế còn một bản đâu?” – Anh Thanh hỏi.
Tôi trả lời: “ Em đưa qua Chú Tố Hữu”.
Im lặng hồi lâu, Anh bảo: “ Mày cẩn thận” , rồi Anh vội lách qua cửa nhỏ tường ngăn sang Bác Năm (Trường Chinh).
Tôi ra đường ngõ, sang đầu phố Nguyễn Cảnh Chân đến nhà Chú Tố Hữu đối diện bên kia đường số 76 phố Phan Đình Phùng góc đường là phố Đặng Tất, đối diện bên nhà Chú Tố Hữu là số nhà 74 phố Phan Đình Phùng là nơi ở của ông Nguyễn Công Miều (Lê văn Lương), liền tường phía bên phải là nhà 72 của ông Phạm Hùng, là nơi sau đó ít lâu tôi đến làm việc mấy lần với Ông Hai Hùng về nhập vàng chống lạm phát, khi đó Anh Phan Diễn đang là Trợ lý của Ông. Người cảnh vệ thấy tôi, cười bảo: “ Chờ nhé”, rồi chạy vào trong nhà ngang phía sau bên tay trái. Một lát có người ra mở cổng. Đi qua khoảng sân trước nhà có cây táo sơ lá cuối hè, qua cửa rẽ trái vào phòng khách đơn sơ, tôi ngồi chờ, có tiếng dép nhẹ, Chú Tố Hữu áo may ô, quần sóc lửng bước vào. Một nụ cười nhẹ trên khuôn mặt nghiêm nghị da trắng tái, Chú nheo nheo mắt có hai quầng sạm, đọc nhanh bản viết tôi vừa đưa Chú. Chú lặng lẽ không nói,xong Chú Tố Hữu rót nước, nhẹ nhàng bảo: “ Thôi, … uống nước,…rồi về, Chú đang bận”.
Chú Tố Hữu ngồi duỗi thẳng hai chân, cổ chân nhỏ gầy, trên hai cổ chân còn hằn vết sẹo bị Pháp cùm những năm 1940 – 1942.
Đọc xong Chú hắng giọng: “Còn tập thể, còn nguyên tắc,..không dễ đâu!”
Tiễn tôi qua sân nhỏ, chợt Chú nói: “ Nào,…” xòe bàn tay nắm tay tôi hồi lâu. Ông nheo nheo mắt nhìn tôi rồi, hơi mỉm cười, quay vào.
Chiều Ba mươi Tết Nguyên đán 1986, tôi mang lên tặng Cô Thanh, Chú Tố Hữu mười quả cam sành Hà Giang. Cô Thanh vồn vã: “ Lúc này thật biết lòng người,…”. Trong nhà cha mẹ và các anh chị tôi có anh Vũ Tuyên Hoàng là hay gặp Chú Tố Hữu. Có lần chợt anh Hoàng nói nhận xét của Chú Tố Hữu về tôi: “ Thằng Phương là rất có tài. Tính nó cương trực ít người có. Nhiều người cũng muốn đánh chết nó nhưng nó không có gì sai mà đánh được”, một lời đánh giá thật cảm động, tôi luôn mang theo trong suốt chặng đời còn lại ! Tình cờ nhận xét sau đó của vợ chồng Kiến trúc sư Nguyễn Bá Đang (Vợ là Bí thư Đảng ủy trường Đại Học Kiến trúc Hà nội) cũng có ý tương tự. Sau này trong một quan hệ công tác 35 năm (1980 – 2015) với Anh Đoàn Duy Thành nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Phó Thủ tướng Chính Phủ cũng có chung nhận xét, Anh nói tới mấy lần:
-“ Đời tôi ít thấy ai cương trực như chú (Vũ Ngọc Phương),…!”
Từ những kỷ niệm ấu thơ tôi mới hai, ba tuổi theo Cha Mẹ làm Ban Văn, Sử, Địa ở trong dẫy nhà lợp tranh, phên nứa ở ATK Việt Bắc có dòng suối nhỏ chẩy ngang, bên kia là Ngành Văn Nghệ Trung ương. Lâu lâu mới có thịt lợn rừng, Chú Tố Hữu lội qua suối đón tôi, ngày ấy Cô Chú chưa sinh các em Hoa, Hồng,… Có một ảnh đen trắng nhỏ có đông cán bộ văn nghệ đứng giặt rũ dưới suối, tôi gầy bé, đầu to đang được Mẹ tôi lau rửa, Chú Tố Hữu đứng bên. Những bộn bề công việc thời kỳ này, tôi có được gặp, báo cáo Chú Tố Hữu về những công tác cần. Những kỷ niệm ngắn, mong manh của năm tháng xa lại rất rõ ràng về Chú Tố Hữu - một Người Thanh liêm, Chính trực, Cẩn trọng mà Dịu dàng - Mỗi lần nhớ lại, tôi không khỏi rưng rưng nước mắt.
Trong Ban nghiên cứu Văn Sử Địa (Việt Nam) có một cán bộ Văn mới ra trường là Anh Vũ Quốc Tuấn, sau này hàm Bộ trưởng là Trợ lý Thứ nhất Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Tôi đến làm việc và thăm Anh chị Vũ Quốc Tuấn nhiều lần. Anh chị vẫn ở căn phòng tầng trệt thứ hai từ nhà 18 Hàn Thuyên Hà nội đi vào, trong phòng có làm thêm gác xép. Chỗ tiếp khách ở sát cửa sổ, Anh cho kê thêm bộ bàn ghế gỗ cán bộ đánh vecni đỏ quạch.
Khi tổng hợp các bài viết, tôi đã đưa bài viết “ Giá – Lương – Tiền” lên trang đầu sách Vũ Ngọc Phương Trước tác như một sự kính cẩn tưởng nhớ đến Nhà Trí thức - Nhà Cách mạng Lỗi lạc Tố Hữu. Ông biết rõ tất cả, hiểu tất cả, Ông đã nói cho tôi về: “Quy luật tiến hóa Nhân loại, tiền và thị trường, ... Không có chợ thì sản xuất rồi bán ở đâu?”.
Có lần Ông hỏi:
- “ Cháu đã xem Bi kịch lạc quan chưa? Tên phim thật hay,..”
Nhưng Ông cũng chấp nhận quy luật một thời khôi phục kinh tế trong lịch sử trường kỳ vừa kháng chiến, vừa hòa bình với nguyên tắc “ Phục tùng đa số”. Hình bóng Ông thấp nhưng bệ vệ, mùa nóng Ông thường mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, quần kaki mầu be, đi dép nhựa Tiền phong. Có lần gặp Ông để báo cáo về mấy việc của công tác xây dựng Huyện thấy áo sơ mi của Ông đã sờn vai, cổ áo được mạng lại rất khéo,… chưa từng phai mờ trong tâm trí tôi.
Trong các bút tích của Chú Tố Hữu ghi tặng tôi, xúc động nhất là chữ Chú viết tặng khen thưởng công tác của tôi tại Hội nghị tổng kết công tác Xây dựng Huyện ngày 04 tháng 10 năm1984 do Tổng Bí thư Lê Duẩn chủ trì tại Hội trường Ba đình, Hà Nội. Từ cuối năm 1981 đến năm 1986, ông Tố Hữu là Người Lãnh đạo toàn diện đất nước và là người được chuẩn bị làm Tổng Bí thư Đảng khóa VI thay ông Lê Duẩn.
Tuy vậy có không ít bài viết vì lý do nào đó xuyên tạc về Ông Tố Hữu, tháng 5 năm 2004, báo Quân đội Nhân dân trích đăng 2 kỳ và kỳ số 3 ngày 7 /5 /2004 một bài viết có nhan đề “Tố Hữu” và “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, trích từ bài phỏng vấn Tố Hữu có đầu đề là “Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng” của tác giả Nhật Hoa Khanh vào năm 1997. Bài phỏng vấn này còn đăng thành nhiều phần trong các báo khác như Nhân dân, Tiền Phong Chủ Nhật, Người Hà Nội,... được công bố sau khi ông mất từ ngày 9 tháng12 năm 2002 tại Bệnh viện 108, Hà Nội. “Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng” đã được xuất bản ở dạng sách, không ghi nhà xuất bản, bản photocopy của quyển sách này được lưu truyền nhiều người.
Ngay khi đọc bài viết của Nhật Hoa Khanh, tôi cũng có nhiều cảm nhận không phải là Chú Tố Hữu nói, xin dẫn ra một số đoạn chứng tỏ Nhật Hoa Khanh viết sai sự thật : “ … Tôi bấm chuông. Một người phụ nữ giúp việc từ trong nhà đi ra nhưng chưa mở cổng sắt lớn. Lát sau, trở ra, chị hỏi tôi có mang giấy tờ gì không. Tôi gửi chị tấm thẻ nhà báo. Chị cầm thẻ đi vào. Khi ra, chị trả lại thẻ và mở cửa. … Chân đi bít tất và dép Thái Lan, …. Tôi đã mười năm ở trong Bộ Chính trị, tôi không cãi nhau với Phạm Duy,.. “Thưa anh, xin được hỏi về hai bài thơ của anh: Mười năm và Tiểu đội anh hùng.” Tố Hữu trả lời trong sự ngạc nhiên: “Tôi không nhớ gì về hai bài thơ đó.” Tôi đọc một đoạn dài trong Mười năm. Nhà thơ bảo: “Thơ của tôi à? Đăng ở đâu? Tôi hoàn toàn không nhớ ra hai bài này.”,… tôi lần lượt nói với anh Ba và anh Văn: tôi giữ ba chức đấy nhé: Trưởng ban Thống nhất Trung ương, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương và Bí thư Trung ương Đảng,… Quân Đội Nhân Dân không đăng,.. Ngây thơ! Ngốc! Đây là hai câu thơ vui về các chàng lính trẻ,… Nhân Dân cũng không đăng”. Không thể kể hết những sự cực vô lý mà Nhật Hoa Khanh đã miêu tả về tác phong kẻ cả, nói nhiều chưa từng thấy ở Nhà thơ Tố Hữu.
Thứ nhất, trong nhiều năm đến nhà Chú Tố Hữu không thấy khi nào mở cổng sắt to, thường khách, cán bộ đến gặp, làm việc đã có chương trình, kế hoạch trước đi vào qua cổng sắt nhỏ bên trái sát cạnh là phòng trực của Cảnh vệ. Vì đã có định sẵn, chỉ cần nói tên, không khi nào xuất trình giấy tùy thân vì đề phòng giả mạo. Nguyên tắc an ninh này được thực hiện cho đến khi ông Tố Hữu qua đời.
Thứ hai, là tất cả các buổi tối Chú Tố Hữu đọc tài liệu, không tiếp khách thường. Khi rất cấp thiết mới có vài vị Lãnh đạo cao nhất của Đảng – Nhà nước đến làm việc. Với những cuộc gặp thân tình tại nhà riêng nhiều lắm cũng khoảng 20 phút. Tôi chưa thấy khi nào Chú Tố Hữu đi tất lại đi dép Thái Lan vì phải xỏ ngón cái vào quai giữa rất khó chịu. Hai cổ chân ông có vết sẹo mờ vì bị Pháp cùm lâu trong xà lim, bàn chân bị Pháp tra tấn kẹp sau này vẫn hay đau tê nên ở nhà ông đi dép lê cho thoải mái. Từ lịch sử gia đình, tôi có được gặp gần hết các vị Lãnh đạo lớp đầu tiên của Đảng – Nhà nước, không riêng Ông Tố Hữu, tất cả các Vị Lãnh đạo cao nhất thời đó đều giản dị, khiêm tốn, không khi nào quan cách, tự cho mình là Ông To gì đấy. Vì thế câu “Tôi đã mười năm ở trong Bộ Chính trị, tôi không cãi nhau với Phạm Duy” tuyệt đối không thể là của Tố Hữu! Rồi chuyện “Tố Hữu trả lời trong sự ngạc nhiên: “Tôi không nhớ gì về hai bài thơ đó.” Là cực vô lý, kể cả khi Tố Hữu sống những năm cuối đời, gặp Chú Tố Hữu trong A11/108, ông có trí nhớ rất minh mẫn, còn nhắc lại mấy kỷ niệm nhỏ cả về tác phong Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Nhà thơ Lê Hằng Phương lúc sinh thời, về Anh Vũ Tuyên Hoàng. Tôi đã nhiều lần được nghe Chú Tố Hữu đến chơi nói chuyện với Cha, Mẹ tôi. Ông là một Nhà thơ – Nhà Chính trị lỗi lạc, ông kín đáo, ít lời, ngay cả khi cười cũng nhẹ nhàng. Trong những lần chứng kiến sự nói chuyện riêng tư cũng chưa từng thấy Ông chê bai ai, nhất là khi người đó vắng mặt.Thời kỳ Tố Hữu đương nhiệm, trong một không khí chính trị, xã hội rất kỷ luật, không thể nghĩ được rằng báo Quân đội Nhân Dân và báo Nhân Dân “ Dám” không đăng thơ của ông (!) Khi mà thơ Tố Hữu luôn chan chứa tình Người, Tình Đời, trong đau khổ vẫn lạc quan, đằm thắm.
Bà Vũ Thị Thanh – Phu nhân của Nhà thơ Tố Hữu cho đó là những tài liệu giả mạo “Pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình”. Bà yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc để điều tra làm rõ sự giả mạo của tài liệu này. Vì sao bài viết của Nhật Hoa Khanh bị chính vợ Nhà thơ Tố Hữu, các đồng chí, bạn bè của Nhà thơ Tố Hữu phẫn nộ? Vì sao cuốn sách của Nhật Hoa Khanh bị coi là một trong những ấn phẩm bị nguy hiểm?
Nhà văn Hoàng Tiến, trong bài viết “Sự thật ở đâu? (Nhân đọc bản thảo Nhà thơ Tố Hữu tâm sự)” viết ngày 6.6.2004, gửi tới “Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Ban Tư tưởng-Văn hoá, Bộ Văn hoá, Bộ Công an, Hội Nhà văn Việt Nam, Các cơ quan báo chí, thông tấn, Bè bạn văn nghệ sĩ và Các bạn đọc quan tâm”, đăng trên nhiều tạp chí, websites, và các diễn đàn trên mạng, cho biết rằng các báo như Tiền Phong Chủ Nhật, Người Hà Nội cũng đã trích đăng tài liệu này. Ngày 17.7.2004, nhân dịp Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành cuốn sách “Tố Hữu - Người cộng sản kiên trung, nhà văn hoá tài năng” , báo Văn Nghệ đăng bài phỏng vấn bà Vũ Thị Thanh vợ nhà thơ Tố Hữu do Ngọc Tỉnh thực hiện hỏi về tính xác thực của tài liệu này. Cuộc phỏng vấn có mặt các ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá, ông Trịnh Thúc Huỳnh, và ông Hà Minh Đức.
Lược trích nguyên văn ý kiến của bà Vũ Thị Thanh trên Báo Văn Nghệ, 17.7.2004 như sau:
“Gần đây có một tài liệu cuộc “Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng” năm 1997. Về tính xác thực của tài liệu đó, tôi xin khẳng định tài liệu đó là giả mạo, pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình. Nội dung tài liệu đề cập rất nhiều vấn đề quan trọng trong đời sống tư tưởng văn hoá hiện thời, nói đó là ý kiến của Anh Tố Hữu. Tài liệu đó ghi là từ tháng 4-1997 (đã được sửa 20 lần) mà mãi đến tháng 6-2004, tức là sau 7 năm, chờ tới khi Anh Tố Hữu không còn nữa mới dám lưu hành một cách phi pháp. Tài liệu đó không có chứng tích kiểm định (không có bút tích hay ghi âm), lại chưa được Anh Tố Hữu duyệt và cho phép công bố. Hơn nữa nó đã qua “sửa lại khoảng 20 lần”, như vậy tác giả sửa ý của mình, không phải của Tố Hữu. Những vấn đề được đề cập trong đó tôi không hề biết, cho đến khi Nhật Hoa Khanh phát tán, nhiều đồng chí bạn bè phẫn nộ gọi điện thoại và gửi tài liệu cho tôi đọc.
Tôi là người gần Anh Tố Hữu, làm thư ký cho Anh (do Tổ chức phân công) từ cuối những năm 90 thế kỷ trước, hiện đang lưu giữ tất cả bút tích, thư từ, bài nói, tranh ảnh. vật lưu niệm… của Anh. Là người có quyền công bố tất cả các tác phẩm, di cảo của Anh, tôi khẳng định những vấn đề ghi trong tài liệu của Nhật Hoa Khanh không phải là ý kiến của Anh Tố Hữu. Tôi biết rất rõ Anh Tố Hữu không bao giờ “phẩm bình nhân vật”, khen chê người này kẻ khác, nói đi nói lại một cách tùy tiện. Nhật Hoa Khanh là một người xa lạ, nhiệm vụ công tác không rõ ràng. Anh Tố Hữu từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, người hay thảo văn kiện cho Trung ương, người làm thơ, biết giá từng chữ, từng dấu phẩy, lẽ đâu nói tràn lan cho người không quen biết ghi 70 trang mà không cần xem lại. Anh Tố Hữu không vô ý đến thế ! Và làm gì có chuyện một buổi chiều mà một phóng viên ghi tay tới 70 trang giấy. Rất nhiều truyện, nhiều việc thuộc diện Anh Tố Hữu không quan tâm (như tờ Kiến trúc mà anh Nhật Hoa Khanh cộng tác, Anh Tố Hữu đâu có đọc mà Anh nói về nó những 2 trang). Về bối cảnh cuộc phỏng vấn thì sức khoẻ anh Tố Hữu không cho phép Anh nói suốt 7 tiếng đồng hồ (từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối như Nhật Hoa Khanh nói trong tư liệu). Gia đình chúng tôi không để Anh làm việc quá sức như vậy với một việc làm không gấp gáp, quan trọng. Nhật Hoa Khanh lại nói trong lúc nói chuyện có một thanh niên đi qua đi lại nhắc nhở thì là bịa đặt vì thời gian đó trong nhà tôi không có một thanh niên nào vào những buổi chiều.
Tóm lại tài liệu mà Nhật Hoa Khanh đã dùng kỹ xảo để dựng lên những sự kiện biạ đặt có nhiều ý đồ xấu. Ngoài tài liệu giả mạo của Nhật Hoa Khanh , trước đó ít lâu, trong số báo ANTG cuối tháng 5 có một bài của Tạ Chương tựa đề “Tố Hữu và ngọn đèn thơ” cũng là một dạng viết rất chủ quan, cảm tính, ghán ghép tùy tiện, không có kiểm định. Nhưng nó dựng lên một cách tinh vi một Tố Hữu cô đơn, hoang mang, tuyệt vọng, đáng thương. Với tư cách là vợ anh Tố Hữu, thư ký cho anh gần 20 năm, đang có trong tay tất cả những bút tích của Anh, tôi hiểu rõ tư tưởng, quan điểm của Anh Tố Hữu – là thủ trưởng trực tiếp của tôi trên 30 năm, tôi đề nghị các báo, báo chí, xuất bản không đăng hoặc, không lưu hành dưới bất kì dạng nào những loại tài liệu không chính xác, không lành mạnh như trên, và nếu đã đăng hoặc lưu hành thì cần phải được cải chính công khai trên báo chí. Từ đó tôi đề nghị Nhà nước cần biện pháp nghiêm minh để bảo vệ thanh danh cho mọi công dân, bảo vệ tính xác thực của những sự kiện lịch sử đúng đắn, xử lý thích đáng mọi hành vi vu khống, bịa đặt, nói xấu, làm tổn hại uy tín, nhân cách của mọi công dân, tổn hại đến sự nghiệp văn hoá-chính trị, đến sự bình an và phát triển của đất nước mà nhân dân ta đang ra sức bảo vệ” – Trích nguyên văn.
Thứ hai, ngày 29/11/2004 vào lúc 16:20 (GMT +7) báo điện tử VNEXPRESS có đăng bài viết “Mượn danh nhà thơ Tố Hữu truyền bá quan điểm riêng”, nội dung bài phóng sự điều tra có nhiều nội dung chứng tỏ tài liệu của Nhật Hoa Khanh là bịa đặt. Xin lược trích như sau:“Một thời gian ngắn sau khi phát tán tài liệu này, chính Nhật Hoa Khanh đã gọi điện cho bà Vũ Thị Thanh nói rằng: "Trong bài viết của em có chi tiết sai, anh Tố Hữu tiếp em đến 7h tối chứ không phải là 9h đêm". Mặt khác, còn nhiều bất hợp lý quanh sự ra đời của tập tài liệu trên. Theo Nhật Hoa Khanh thì đây là lần đầu tiên ông được gặp nhà thơ Tố Hữu. Với một người mới tiếp xúc lần đầu tiên, nhà thơ Tố Hữu không thể chuyện trò lâu được đến như vậy. Chỉ riêng chuyện về thời lượng cuộc gặp, lời kể của Nhật Hoa Khanh trong tập tài liệu đã không có đủ độ tin cậy. Các cơ quan chức năng thời gian qua đã tiến hành kiểm chứng, đối chứng tài liệu đang phát tán và các tài liệu, sổ tay của tác giả Nhật Hoa Khanh; đã phân tích khách quan, khoa học một số nội dung, sự kiện được ghi trong các tài liệu đó; đã tham khảo ý kiến của những người gần gũi với nhà thơ Tố Hữu và đã có đủ cơ sở để khẳng định: Phần lớn nội dung trong tài liệu “Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng” của Nhật Hoa Khanh là giả mạo, xuyên tạc, bịa đặt”.
Đến đây, tôi cho rằng tác giả Nhật Hoa Khanh nào đó viết trong bài “Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng, … là những tài liệu giả mạo,… Pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình,… tôi đề nghị Nhà nước cần biện pháp nghiêm minh để bảo vệ thanh danh cho mọi công dân, bảo vệ tính xác thực của những sự kiện lịch sử đúng đắn, xử lý thích đáng mọi hành vi vu khống, bịa đặt, nói xấu, làm tổn hại uy tín, nhân cách của mọi công dân, tổn hại đến sự nghiệp văn hoá-chính trị, đến sự bình an và phát triển của đất nước mà nhân dân ta đang ra sức bảo vệ ” đúng như ý kiến của bà Vũ thị Thanh.
Nhật Hoa Khanh tên thật là Nguyễn Huy Đức, sinh năm 1941 tại Hà Nội. Năm 2004 có hộ khẩu thường trú tại Phường 3, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Huy Đức tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà nội 1961, dậy học tại Tây Bắc, sau về làm ở Ty (Sở) Giáo dục Hải Hưng ( tên cũ sát nhập 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên). Năm 1979, Nguyễn Huy Đức làm phóng viên báo Sài Gòn Giải phóng, lấy bút danh Nhật Hoa Khanh. Năm 1981 bị kỷ luật buộc thôi việc, có làm hợp đồng cho một số báo. Năm 2002 nghỉ ra sống tại Hà Nội. Bài viết Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng của Nhật Hoa Khanh - Nguyễn Huy Đức bị chính vợ Nhà thơ Tố Hữu, các đồng chí, bạn bè của Nhà thơ Tố Hữu phẫn nộ là đương nhiên. Chỉ có sự khó hiểu là tại sao, vì lẽ gì, một số báo chí lúc đó không có kiểm chứng, lại dễ dàng đăng bài viết của Nhật Hoa Khanh với mục đích gì để từ đó đến nay không thiếu những người chống Nhà nước Việt Nam sử dụng truyền bá xuyên tạc?.
Cuối Xuân năm 2024, sau khi làm việc ở số 04 Nguyễn Cảnh Chân, tôi đi sang nhà 76 Phan đình Phùng giờ vắng lặng không một bóng người. Cán bộ Ban Tài chính quản trị Trung ương mở cổng nhỏ rồi đứng ngoài đợi. Tôi đi lần lượt các phòng, các tầng, … Như phảng phất đâu đây hình bóng Chú Tố Hữu, Cô Thanh tươi cười, đôn hậu,… Nhớ câu thơ của Chú Tố Hữu trong bài thơ “ Chào Xuân 61”:
“ Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt,
Nắng soi sương giọt long lanh,
Rét nhiều nên ấm nắng hanh,
Đắng cay lắm mới ngọt lành đó sao,…”
Đúng là “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ”! – Trích trong Truyện Kiều, Nguyễn Du.
THAM KHẢO
(Lược trích)
Đồng chí Phan Diễn: Công cuộc đổi mới cần sâu rộng hơn, khẩn trương hơn
Chinhphu.vn -21/01/2021 09:57
“Đồng chí Phan Diễn bày tỏ đồng tình và tâm đắc với nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay". Điều đó khẳng định rằng, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng trong chặng đường 90 năm qua là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.Tuy nhiên, đồng chí cũng nhắc lại lời của Tổng Bí thư: “Không được chủ quan, tự mãn. Chủ quan là thất bại, có thể quá khứ rất oanh liệt, huy hoàng, vĩ đại nhưng chỉ cần chủ quan, tự mãn là thất bại, đổ vỡ.”
Đồng chí Phan Diễn chia sẻ niềm vui: “Trước đây, trong chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, chúng ta chiến đấu giỏi, khiến thế giới khâm phục. Ngày nay thế giới ngày càng kính nể Việt Nam và đang khen ngợi Việt Nam về thành tích chống COVID-19 và phát triển kinh tế. Chúng ta không tự mãn, nhưng ngày càng thêm tự tin, tài năng, bản lĩnh vốn có của người Việt Nam trong chiến tranh, bảo vệ đất nước đã dần dần thể hiện trong xây dựng, phát triển kinh tế, quản lý đất nước”. Bài viết đã dẫn. Theo đồng chí Phan Diễn, để đất nước có thể phát triển mạnh mẽ hơn, bền vững hơn, thích ứng được với tình hình của thế giới đang biến đổi rất nhanh chóng, đặt ra rất nhiều vấn đề, trong đó có nhiều vấn đề “phi truyền thống” đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục đổi mới sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Theo đồng chí Phan Diễn, đến nay, chúng ta đã đổi mới kinh tế khá sâu, tuy nhiên, với tình hình thế giới thay đổi nhanh, nhiều mặt cho nên kinh tế của ta vẫn cần tiếp tục đổi mới nhiều hơn, khẩn trương hơn nữa. Đi đôi với đổi mới kinh tế, chúng ta đã có nhiều đổi mới chính trị quan trọng, nhưng chưa tương xứng với đổi mới kinh tế. Chính vì vậy, thời gian tới, đổi mới chính trị càng phải được quan tâm nhiều hơn. Hai mặt này phải song hành, đồng bộ thì đổi mới mới đạt kết quả cao và bền vững. Đổi mới chính là để xây dựng được CNXH đích thực: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, đồng chí Phan Diễn khẳng định - PVPhương Liên (ghi)
Những chuyến thực tế xoay chuyển vận nước của Tổng bí thư Trường Chinh
Người nắm giữ 'chìa khoá' Đổi mới
Thứ ba, 20/12/2016, 00:08 (GMT+7)VNEPRESS
Trần Quang, Võ Văn Thành & Hoàng Phương.
Từ người có tư tưởng khá cứng rắn, TBT Trường Chinh thông qua những chuyến thực tế trên khắp đất nước đã thay đổi quan điểm, mở đường cho đổi mới.
Chứng kiến người dân quê thở dài "chết đến nơi rồi", nước mắt của lãnh đạo doanh nghiệp vì "xé rào" mà bị kỷ luật, Tổng bí thư Trường Chinh quyết "nhìn thẳng vào sự thật" dù đối diện nhiều ý kiến phê phán gay gắt. Dành cả đời để nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam, cố giáo sư Đặng Phong trong các công trình nghiên cứu của mình cho rằng: Không thể nói ai là tác giả của Đổi mới ở Việt Nam, đó là sự nghiệp của toàn dân và tập thể lãnh đạo. Mỗi người có đóng góp tùy vào vị trí, cũng như tâm huyết và trí tuệ của mình, để cùng nhau đẩy tiến trình Đổi mới đi lên.“Thời điểm trước khi diễn ra Đại hội Đảng VI, sau khi Tổng bí thư Lê Duẩn qua đời và ông Trường Chinh lên thay, có thể nói ở vị trí của mình - Tổng bí thư và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước - nhà lãnh đạo Trường Chinh là người nắm giữ chìa khóa của Đổi mới”, GS Đặng Phong nhận định.
“Chiếc chìa khoá Đổi mới” đã không hình thành trong một sớm một chiều, mà có quá trình từ nhiều năm trước đó.Đầu thập niên 80, thông tin từ các bộ ngành, địa phương cũng như thư từ của cán bộ, đảng viên và nhân dân khắp nơi gửi về văn phòng Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh, phản ánh những khó khăn, bức xúc về tình hình kinh tế - xã hội. Trước tình hình trên, nhà lãnh đạo trăn trở suy nghĩ tìm cách đưa đất nước thoát tình thế “dựa chân tường”. Cuối tháng 11/1982, ông quyết định hai việc đặt nền móng cơ bản cho sự hình thành tư duy đổi mới sau này. Một là, thành lập nhóm các nhà khoa học để nghiên cứu lý luận, gồm cả việc phân tích khách quan cuộc khủng hoảng kéo dài và suy nghĩ, xem xét phải bắt đầu từ đâu, làm thế nào để “thoát ra”. Hai là, tổ chức đi thực tế ở các địa phương trên cả ba miền đất nước.Hàng loạt chuyến đi từ 1983 đến 1985 giúp Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh nhìn rõ sự thật.
Khoán chui
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Vũ Oanh (thời điểm năm 1982 là Trưởng Ban Ban Nông nghiệp Trung ương) nhớ lại, lúc bấy giờ lối quản lý hợp tác xã khiến sản xuất nông nghiệp hết sức trễ nải. Trước tình thế đó, một số nơi ở Hải Phòng, Vĩnh Phúc giao ruộng cho xã viên, ngoài mức nộp cho hợp tác xã theo diện tích được chia, nông dân hưởng phần sản lượng dư thừa. Cách làm này còn gọi là “khoán chui”, vì trái với hình thức hợp tác hoá nông nghiệp và chủ trương cải tạo quan hệ sản xuất ở nông thôn.“Khoán chui” giúp đời sống nông dân cải thiện, nhưng ở cơ sở phải làm lén lút, nếu trên biết thì bí thư đảng uỷ, chủ nhiệm hợp tác xã bị kỷ luật, thậm chí bị khai trừ ra khỏi Đảng. Điển hình là Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú Kim Ngọc cho người dân khoán hộ nên phải làm kiểm điểm, tự phê bình.“Ban đầu, đồng chí Trường Chinh nghe nói đến khoán chui thì trầm ngâm suy nghĩ, rồi yêu cầu chúng tôi cùng đi khảo sát”, ông Phan Diễn (nguyên Thường trực Ban bí thư, từng là thư ký của Tổng bí thư Trường Chinh) nhớ lại. Nhóm giúp việc tổ chức để ông Trường Chinh xuống thăm cả hai mô hình, đầu tiên là một số hợp tác xã quản lý theo kiểu cũ đạt kết quả tốt. Ở những nơi này, ông Trường Chinh hài lòng, nhưng khi tìm hiểu sâu, ông nhận thấy mô hình đó đòi hỏi phải có lãnh đạo tốt, tâm huyết và được địa phương ưu ái dồn nguồn lực đầu tư. Với hai điều kiện như vậy thì không thể làm đại trà, vì thực chất chỉ là cách xây dựng “mô hình kiểu mẫu”.
Lần nọ, đón ông xuống thăm, một hợp tác xã đã mượn những con lợn béo nhất của tư nhân nhốt chung vào chuồng lợn tập thể để “khoe thành tích”. Có người phát hiện chỉ ra chuyện này, vì lợn nuôi chung một chủ sẽ không cắn nhau chí chóe trong chuồng như vậy. Nghe xong, ông cau mày suy nghĩ. Đi tiếp đến những nơi “khoán chui”, ông Trường Chinh thấy rõ sức sống trong sản xuất. Có lần về quê ở Nam Định, ông nghe bà con họ hàng than thở: "Bác làm thế nào cho khoán vài năm để chúng tôi sống đã, sau đó rồi siết lại chứ chết đói đến nơi rồi". Đến lúc này, từ chỗ từng phê phán mô hình khoán của Vĩnh Phú, ông Trường Chinh đã thay đổi ý kiến.
Nhìn thẳng vào sự thật
Những quan điểm đổi mới của nhà lãnh đạo Trường Chinh lần lượt được trình bày tại các hội nghị Trung ương năm 1984, 1985. Ông nêu rõ chế độ bao cấp trong những năm qua làm cho bức tranh kinh tế trở thành giả tạo, đồng thời đưa ra cách nhìn mới về hàng loạt vấn đề: Thái độ với thị trường và giá thị trường, cách giải quyết vấn đề tiền lương, đánh giá hiện tượng "xé rào" ở cơ sở...Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa V) ngày 6/7/1984, ông nhấn mạnh đến thái độ dứt khoát: Trong khi chúng ta còn đang do dự, chưa quyết tâm giải quyết vấn đề tiền lương thì các ngành, các địa phương và cơ sở không chờ quyết định của Trung ương, từ lâu đã “tự động xé rào” để lo cho đời sống công nhân viên chức."Khi Trường Chinh nói đến cụm từ tự động xé rào, cả hội trường xôn xao, rằng: Không ngờ ông cụ nắm chắc tình hình đến thế!”, giáo sư Trần Nhâm (nguyên trợ lý Tổng bí thư Trường Chinh) thuật lại. Các bài phát biểu của ông không dừng lại trong các hội nghị Trung ương mà nhanh chóng được xã hội đón nhận, truyền tay nhau đọc và bàn luận sôi nổi. Nhưng lúc này cũng xuất hiện các ý kiến trái chiều. Trên một số diễn đàn vào cuối tháng 3, đầu tháng 4/1986, khi thảo luận các quan điểm kinh tế, có ý kiến phê phán gay gắt tư duy mới là "say sưa với cơ chế thị trường", "bắt chước các quan điểm của nước ngoài", cho rằng phải "cẩn thận với những con ngựa thành Troy”... Hơn ai hết, ông Trường Chinh thấy rõ tính chất khó khăn, phức tạp trong quá trình đưa tư duy mới trở thành dòng chủ lưu. Theo bộ sách về tiểu sử của ông được ấn hành bởi Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, lúc bấy giờ, “những ý kiến đúng đắn và kiên định của đồng chí Trường Chinh đã góp phần quan trọng giúp cho Đảng giữ vững được định hướng đổi mới kinh tế, tránh được bước quanh có dao động quay trở lại con đường quan liêu, bao cấp”.Và rồi vào một ngày đông cách đây tròn 30 năm, từ diễn đàn Đại hội VI, giọng của Tổng bí thư Trường Chinh vang trong hội trường Ba Đình giữa những tràng vỗ tay nồng nhiệt, kéo dài:
Lược trích:
Trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, vào những thời điểm khó khăn nhất, Đảng ta luôn xuất hiện những nhà lãnh đạo kiệt xuất, đó là Tổng Bí thư Trường Chinh và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ở cả hai đều có những nét tương đồng đặc biệt.
Trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, vào những thời điểm khó khăn nhất, Đảng ta luôn xuất hiện những nhà lãnh đạo kiệt xuất. Trong giai đoạn đầu của Tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, khi đó Tổng Bí thư Trường Chinh là người đứng mũi chịu sào.Và sau này, khi đất nước phải tuyên chiến với "giặc nội xâm" tham nhũng, chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người đứng đầu cuộc chiến chống giặc nội xâm.
Có bề dày ở vị trí "Tứ trụ"
Tổng Bí thư Trường Chinh (1907-1988) là nhà lãnh đạo từng có 16 năm làm Tổng Bí thư (1941-1956 và năm 1986), 16 năm làm Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1960-1975) cùng 5 năm làm Chủ tịch Quốc hội (1976-1981) và cuối cùng là 5 năm làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1981-1987) không kể giai đoạn ông làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng sau khi đã thôi tham gia Bộ Chính trị. Vì thế, ông là nhân vật rất cần được nhắc đến trong bài viết này bởi ông có đến 42 năm cả thảy đảm trách các cương vị thuộc dạng "Tứ trụ". Với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024), ông cũng là một nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm bởi khi có đến trên 20 năm đảm đương các vị trí "Tứ trụ" của nước nhà như gần 14 năm làm Tổng Bí thư (2011-2024), hơn 5 năm làm Chủ tịch Quốc hội (2006-2011), hơn 2 năm làm Chủ tịch Nước (2018-2021) chưa kể 6 năm ông làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội.Cả hai ông đều từng có 3 lần được Đảng tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư và đó cũng là điều cực kỳ đặc biệt trong Đảng. Đổi Mới lúc này là cần thiết, là cấp bách và tư tưởng đó mang tính chất sống còn của cả một chế độ, một đất nước.Cuối cùng, Tổng Bí thư Trường Chinh đã trở thành vị "Tổng Bí thư của Đổi Mới" như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đánh giá.
Những nhà báo lớn của Cách mạng Việt Nam
Với Tổng Bí thư Trường Chinh, ngay sau khi ông được phân công làm Trưởng ban Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Đông Dương, ông cũng là phụ trách một số tờ báo của Đảng hoạt động trong bí mật. Đến khi ông đã là Tổng Bí thư của Đảng, ông vẫn trực tiếp làm Tổng Biên tập báo Cờ Giải phóng rồi báo Sự thật. Nhà báo Hồng Chương (1921– 1989), nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam từng nhận xét: “ Đồng chí Trường Chinh cũng là nhà báo có một không hai trong lịch sử báo chí thế giới” khi liên tục chủ trì, tổ chức hàng chục tờ báo để “dùng bút làm đòn xoay chế độ".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái), khi đó là Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhận bức trướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tặng Tạp chí tại Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Tạp chí Lý luận của Đảng ra số đầu tiên và 40 năm Ngày Tạp chí Cộng sản ra số đầu kỳ (15/12/1930 – 15/12/1995). Ảnh: TTXVN
Với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông xuất thân từ một nhà báo thuộc cơ quan lý luận quan trọng của Đảng, rồi trở thành một nhà lý luận và tư tưởng sắc bén của Đảng.Ông đã là Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản rồi trở thành Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương sau khi rời trọng trách Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản.Cả cuộc đời của hai ông, cho dù đã ở cương vị lãnh đạo rất cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội nhưng các ông vẫn tích cực viết báo và thực sự đều là những nhà báo lớn, nhà tư tưởng lớn, sắc sảo của Đảng ta, của báo chí Cách mạng Việt Nam...
Những tấm gương sáng và mẫu mực về đạo đức, lối sống
Tổng Bí thư Trường Chinh lúc sinh thời sống rất mực giản dị và nguyên tắc. Khi bị ngã cầu thang rồi đột ngột ra đi, bộ phận văn phòng cùng gia đình kiểm phòng ông làm việc thì thấy có 1 cuốn sổ tiết kiệm. Hóa ra đó là số tiền nhuận bút ít ỏi do ông viết sách có được. Ông đã chia nó ra làm nhiều phần. Phần mua quà gửi thăm mấy cơ sở cách mạng trước đây ông từng hoạt động bí mật. Phần chia cho cộng sự giúp việc và phần đưa cho phu nhân để thêm vào việc hàng ngày cần tiêu. Thế nên chỉ còn có khoảng 3 nghìn đồng. Tức là chỉ đủ mua được 12 gói mỳ tôm ngày đó.Có lần, thấy áo đại cán của mình đã sờn cổ tay, ông cùng với đồng chí Quy, bảo vệ tiếp cận đi ra hiệu may Quốc tế ở phố Lê Thái Tổ. Ông muốn may một bộ mới. Nhưng ông cứ đứng tần ngần và vân vê tấm vải như đang cân nhắc gì đó. Thấy đồng chí bảo vệ bên cạnh, ông hỏi: Anh thấy thế nào, có đẹp không? Một lúc sau, ông nói với đồng chí Quy: Để tháng tới lĩnh lương, ta sẽ quay lại mua mấy mét rồi may đo. Hoá ra ông chưa có tiền mà nói vậy.
Về nhà, đồng chí bảo vệ rỉ tai với ông Đỉnh - Trưởng phòng Quản trị của Văn phòng Trung ương Đảng ngày đó. Thế là Văn phòng mời ngay thợ đến nhà công vụ để may đo cho ông. Bữa đó, ông tỏ ra không vui. Ông cảm ơn, xin lỗi người thợ và mời ra về mà không may đồ.Bữa sau đó, đồng chí bảo vệ ông cùng bộ phận hậu cần Văn phòng Trung ương bị ông nhắc nhở. Ông nhắc rằng, đây đâu phải việc của cơ quan phải lo bằng tiền ngân sách mà là chuyện cá nhân thì ông phải lo - Hết phần Lược Trích
Nhân đây xin nhắc lại một sự kiện lịch sử là Paul Doumer - Toàn quyền Đông Dương (1897 - 1902) Trong lịch sử chính trường nước Pháp, cựu Tổng thống Paul Doumer (1857 - 1932) là một gương mặt đặc biệt - từ gia cảnh xuất thân tới các chính sách gây tranh cãi nảy lửa cũng như những thành tựu đạt được. Ông là vị Toàn quyền trẻ nhất nước Pháp (39 tuổi) khi được chỉ định làm Toàn quyền Đông Dương (giai đoạn 1897 - 1902) và đã để lại một khối di sản lớn ở Đông Dương. Người Việt Nam thường nhớ đến những đóng góp lớn của ông khi cho triển khai những công trình cơ sở hạ tầng lớn như những cây cầu huyền thoại Long Biên (Hà Nội), Tràng Tiền (Huế), Bình Lợi (Sài Gòn), cảng Hải Phòng, và nhất là đường sắt chạy suốt Bắc, Trung, Nam. Khi đó, nước Việt Nam bị Pháp chia làm ba bang là Tonkin (Đông Kinh) – Bắc Kỳ, Annam – Trung Kỳ, và Cochinchine – Nam Kỳ. Vì trung tâm nhà nước Việt Nam thời Nguyễn đặt ở Trung Kỳ, tức Annam, nên người Pháp gọi chung người Việt Nam ta là An-na-mít (Annamite). Từ này ban đầu là một tính từ trong tiếng Pháp. Annamite tức là thuộc về Việt Nam, của Việt Nam…Sau đó thành danh từ l’Annamite là người Việt Nam hay l’annamite là tiếng Việt – Tuy nhiên theo cách nói lái có ý miệt thị vì Người Pháp thấy Việt Nam có quả mít, dân ta lại có câu “ Mít đặc” chỉ sự ngu dốt của con người thành ra An nam mít là Ngu Dốt. Học giả Amaury Lorin có viết sách “Bàn đạp thuộc địa” và từ “ Bọn Annamits ( chỉ Người Việt Nam) máu đỏ, da vàng” ý khinh miệt vì thời đó Dân Việt thiếu đói cùng cực nên bệnh gan gây vàng da, mắt vàng đục rất phổ biến. Từ ngữ này nay lại được sử dụng lan tràn khắp các truyền thông đến MC VTV1 cũng nói và tự hào một cách ngu muội (!). Có lẽ họ bắt chước từ cách nói thiếu suy xét của Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn – Cần chú ý là Trịnh Công Sơn chỉ thuần túy là Nhạc sỹ. Là Nhạc sỹ, ông Trịnh Công Sơn cảm hứng nhiều hơn là đọc nghiên cứu sách lịch sử, sách triết học.
Một Nhà Lãnh đạo Cách mạng Việt Nam là Anh Nguyễn Phú Trọng chuyên học Văn ở trường Đại học Tổng hợp Hà nội những năm 1964 – 1968. Từ đó Anh thân với gia đình, nhất là Anh Vũ Tuyên Hoàng. Tháng 3/2016, Anh Nguyễn Phú Trọng bảo tôi:
-“ Em giúp Anh một số công tác, đã bố trí liên lạc”.
Tháng 07/2017, TBT Nguyễn Phú Trọng có hỏi tôi:
- “ Cải cách Thể chế và Cán bộ làm cùng lúc hay làm từng việc một? Làm việc nào trước?”.
Tôi trả lời:
- “ Cải cách Thể chế mất nhiều năm vì phải chọn mô hình, sửa đổi Hiến pháp, hệ thống Pháp luật rồi mới định hình bộ máy. Trước tình hình hiện nay tiên quyết là Cán bộ.Cán bộ tốt sẽ hoàn thiện Thể chế. Chọn đúng người đúng việc cải cách thể chế”.
Trầm ngâm một lát, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói:
-“ Cán bộ cần trước”.
Cuối năm 2016, kỷ niệm 30 năm Đổi Mới, Anh Nguyễn Phú Trọng bảo tôi viết Báo cáo để Đóng góp vào Công cuộc Đổi Mới. Tôi có xin thưa là các tài liệu liên quan công tác được lưu giữ trong Lưu trữ. Anh Nguyễn Phú Trọng nói: “ Được”. Sau đó chỉ một số ít các tài liệu công tác được giải Mật.

Thư viết tay của Ông Trần Tấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân Thành phố Hà Nội gửi ông Đỗ Tấn Sỹ - Chủ tịch Hội Việt kiều ở Bỉ giới thiệu kiến trúc sư Vũ Ngọc Phương để lập Văn phòng Đại diện ở Brurxell tiếp nhận công nghệ Châu Âu cho sản xuất đại trà Vecin và các chế phẩm Hóa chất khác đặt cơ sở nền móng cho Công nghiệp Sinh học – Hóa chất ngày nay. Ông Đỗ Tấn Sỹ ở tại Khách sạn góc Hàng khay – Bà Triệu, Hà nội.
Gần đây trong đời sống xã hội có xuất hiện sau nhiều năm hiện tượng sau khi thực hiện chính sách tự do tôn giáo thì Công chức Nhà nước đi Lễ Thánh, Lễ Phật nhiều không kém gì Dân. Có không ít người đi Lễ ở Ngũ Hành Sơn, Đà nẵng kể: - “ Bà Hằng Phương Nữ sỹ có đường tên Bà chạy thẳng vào đây nên Bà hay hiển linh là một Vị Bồ Tát nói: “ Có Ta mà cũng có Trời ở trong”. Là Dân Việt thì muôn người đều mong Thái Bình Thịnh trị.
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2026.
Vũ Ngọc Phương
Hiện đương nhiệm Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam.








Ông Tố Hữu,